Bộ Nội Vụ triển khai thực hiện Kết luận số 207-KL/TW của Ban Bí thư về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Theo đó, Bộ Nội vụ yêu cầu các hội, hiệp hội và quỹ tập trung thực hiện các nội dung sau:

Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện các chủ trương, văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tới toàn thể hội viên cá nhân, hội viên tổ chức (đặc biệt là doanh nghiệp, cơ sở sản xuất – kinh doanh), các tổ chức trực thuộc hội, quỹ và người làm việc tại các hiệp hội ngành hàng, hiệp hội doanh nghiệp. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát, cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng cấm của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp và người dân; xây dựng cơ chế hỗ trợ, tiếp nhận và giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh theo hướng nhanh gọn, thuận tiện.

Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học – công nghệ trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bao gồm ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn. Qua đó xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, lấy người tiêu dùng làm trung tâm trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của hội viên; khuyến khích hội viên nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo hướng tới sản xuất, tiêu dùng xanh trong hoạt động chăm sóc khách hàng; tăng cường truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa và minh bạch hóa thị trường hàng hóa, dịch vụ trong thời đại công nghệ số.

Thứ ba, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các hội, hội viên trong công tác giám sát và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; triển khai Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 26/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong tình hình mới một cách thiết thực, hiệu quả. Đồng thời tuyên truyền hội viên thực hiện nghiêm các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng hàng hóa, dịch vụ; đấu tranh với các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái, sản phẩm, dịch vụ kém chất lượng, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; góp phần tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy đầu tư đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ và sức cạnh tranh của hội viên cũng như của nền kinh tế; khuyến khích hội viên áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn cao nhất của Việt Nam và quốc tế trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm hàng hóa, dịch vụ đến tay người tiêu dùng đạt chất lượng tốt nhất.

Thứ tư, tiếp tục tham gia tích cực công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chủ động tuyên truyền, vận động, cung cấp thông tin, tư vấn và hỗ trợ pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; kịp thời tiếp nhận và cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ an toàn, chất lượng cũng như các cơ sở vi phạm, mất an toàn tới hội viên và người dân. Đồng thời, tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo tinh thần Chỉ thị số 30-CT/TW và Kết luận số 207-KL/TW.

Thứ năm, trong quá trình tổ chức và hoạt động, các hội, hiệp hội và quỹ phải tuân thủ đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ hội, quỹ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Hội nghị công bố Quyết định về công tác cán bộ

Tham dự Hội nghị có đồng chí Vũ Đức Nam – Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Phó Trưởng Ban Tổ chức Đảng ủy Bộ Công Thương cùng các đồng chí lãnh đạo đại diện các Cục, Vụ, Kiểm soát viên và các đơn vị trực thuộc Bộ Công Thương. Hội nghị còn có sự tham gia của đại diện Lãnh đạo xã Phù Ninh và các đơn vị nhà cung cấp, đối tác, khách hàng của VINAPACO.

Về phía Tổng công ty Giấy Việt Nam có đồng chí Cao Văn Sơn – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên cùng các đồng chí Nguyên lãnh đạo Tổng công ty qua các thời kỳ; các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ, Hội đồng thành viên, Ban Tổng giám đốc; đại diện các tổ chức đoàn thể; Trưởng các cơ quan tham mưu, giúp việc đảng ủy; thủ trưởng các phòng, ban chức năng và đơn vị trực thuộc Tổng công ty,…

Tại Hội nghị, đã công bố Quyết định của Bộ Công Thương về việc bổ nhiệm chức vụ Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Giấy Việt Nam đối với đồng chí Tạ Đức Long. Đồng thời, công bố Quyết định của Hội đồng thành viên Tổng công ty Giấy Việt Nam về việc bổ nhiệm đồng chí Tạ Đức Long – Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Giấy Việt Nam kiêm giữ chức vụ Tổng giám đốc Tổng công ty Giấy Việt Nam.

Đại diện Lãnh đạo Bộ Công Thương trao Quyết định bổ nhiệm chức vụ Thành viên Hội đồng thành viên và tặng hoa chúc mừng đồng chí Tạ Đức Long

Đồng chí Cao Văn Sơn – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên VINAPACO trao Quyết định bổ nhiệm chức vụ Tổng giám đốc VINAPACO và tặng hoa chúc mừng đồng chí Tạ Đức Long

Tại Hội nghị, đồng chí Cao Văn Sơn – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên VINAPACO chúc mừng đồng chí Tạ Đức Long và mong muốn đồng chí trên cương vị mới tiếp tục phát huy hơn nữa kinh nghiệm và khả năng của mình, đoàn kết, sáng tạo, nắm bắt toàn diện mọi lĩnh vực từ đó góp phần xây dựng VINAPACO ngày càng phát triển.

Phát biểu nhận nhiệm vụ, đồng chí Tạ Đức Long – Thành viên Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc VINAPACO nghiêm túc tiếp thu đầy đủ các ý kiến chỉ đạo và bày tỏ niềm vinh dự khi được Lãnh đạo Bộ Công Thương, Hội đồng thành viên tin tưởng phân công giao nhiệm vụ. Trên cương vị được giao, đồng chí khẳng định tuyệt đối chấp hành sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ pháp luật của Nhà nước, thực hiện đúng Điều lệ, quy chế, quy định của Tổng công ty; tận tâm tận lực, phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm trong quản lý, điều hành góp phần xây dựng Tổng công ty Giấy Việt Nam phát triển vững mạnh trong giai đoạn mới.

Đồng chí Tạ Đức Long – Thành viên Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc VINAPACO phát biểu nhận nhiệm vụ tại Hội nghị

Một số hình ảnh tại Hội nghị:

Các đồng chí Nguyên Lãnh đạo VINAPACO các thời kỳ tặng hoa chúc mừng đồng chí Tân Tổng giám đốc VINAPACO


Đại diện Lãnh đạo xã Phù Ninh tặng hoa chúc mừng

Các khách hàng, đối tác tặng hoa chúc mừng

Nguồn: Vinapaco.com.vn

Fed giữ nguyên lãi suất, tiết lộ thời điểm cho đợt nới lỏng tiếp theo trong năm 2026

Động thái này diễn ra trong bối cảnh Fed đang đối mặt với những câu hỏi ngày càng căng thẳng liên quan đến sự độc lập của ngân hàng trung ương, cũng như sự chuẩn bị cho giai đoạn chuyển giao lãnh đạo mới.

Theo tuyên bố sau cuộc họp, các chỉ báo hiện tại cho thấy hoạt động kinh tế Mỹ đang tăng trưởng vững chắc, trong khi thị trường lao động có dấu hiệu ổn định, dù tốc độ tạo việc làm còn chậm.

Fed cũng xóa bỏ câu cảnh báo trước đây về nguy cơ thị trường lao động suy yếu mạnh hơn áp lực lạm phát. Đây là một dấu hiệu cho thấy cơ quan này đánh giá tình hình hiện tại đang cân bằng hơn giữa 2 mục tiêu kép là ổn định giá cả và toàn dụng lao động.

Cũng theo tuyên bố, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) cho biết họ sẽ tiếp tục theo dõi các dữ liệu kinh tế đầu vào và đánh giá cẩn trọng triển vọng vĩ mô trước khi có thêm bất kỳ điều chỉnh nào về lãi suất. Dự kiến, ít nhất đến tháng 6, Fed mới cân nhắc thay đổi tiếp theo trong chính sách tiền tệ.

Tuy quyết định giữ nguyên lãi suất là phù hợp với kỳ vọng của thị trường, nhưng các ý kiến bất đồng vẫn tồn tại. 2 Thống đốc Stephen Miran và Christopher Waller, đều được Tổng thống Donald Trump bổ nhiệm, đã bỏ phiếu phản đối và kêu gọi 1 lần giảm lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.

Ông Miran, người được chỉ định tạm thời vào ghế trống hồi tháng 9/2025, sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào thứ Bảy. Trong kh đó, ông Waller tuy từng được phỏng vấn cho vị trí Chủ tịch Fed nhưng được đánh giá khó có cơ hội thành công.

Quyết định chính sách lần này có vẻ mang tính kỹ thuật, nhưng lại diễn ra trong bối cảnh đầy biến động tại trụ sở Fed. Chủ tịch Jerome Powell chỉ còn 2 cuộc họp nữa trước khi kết thúc nhiệm kỳ 8 năm đầy sóng gió. Trong khoảng thời gian này, ông đã dẫn dắt ngân hàng trung ương Mỹ vượt qua đại dịch toàn cầu, suy thoái sâu và nhiều cuộc đối đầu căng thẳng với chính quyền Tổng thống Trump.

Gần đây nhất, ông Powell phải đối mặt với trát triệu tập từ Bộ Tư pháp Mỹ liên quan đến dự án cải tạo trụ sở Fed trị giá 2,5 tỷ USD tại Washington. Trước đó, ông từng nhiều lần bị Tổng thống Trump đe dọa cách chức, còn Thống đốc Lisa Cook, một nhân sự do chính quyền tiền nhiệm bổ nhiệm, đang chờ phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ về tính hợp pháp của quyết định sa thải.

Trong tuyên bố gần đây, ông Powell thẳng thắn cho rằng các hành động từ phía Nhà Trắng, bao gồm cả cuộc điều tra của Bộ Tư pháp, chính là nỗ lực nhằm kiểm soát chính sách tiền tệ của Fed. Dù các đời Tổng thống trước cũng từng gây áp lực lên Fed, song chưa từng có tiền lệ nào mang tính công khai và quyết liệt như dưới thời ông Trump.

Trong khi cuộc chiến chính trị vẫn chưa có hồi kết, nền kinh tế Mỹ đang cho thấy nhiều dấu hiệu phục hồi ấn tượng. Tăng trưởng GDP quý III đạt tới 4,4%, và dự báo quý IV có thể tăng đến 5,4% theo tính toán của Fed Atlanta.

Song, thị trường lao động vẫn khá trầm lắng, một phần do chính sách siết chặt nhập cư từ chính quyền Trump. Số lượng việc làm mới tạo ra không nhiều, nhưng số đơn xin trợ cấp thất nghiệp vẫn ở mức thấp nhất trong hai năm, cho thấy chưa có làn sóng sa thải đáng lo ngại.

Vấn đề khiến nhiều quan chức Fed băn khoăn hiện nay là lạm phát. Dù đã hạ nhiệt so với mức đỉnh 40 năm hồi 2022, lạm phát hiện vẫn duy trì quanh mốc 3%, cao hơn mục tiêu dài hạn 2% mà Fed đặt ra.

Một số thành viên FOMC tỏ ra thận trọng và cho rằng các đợt cắt giảm lãi suất nên được dừng lại hoặc hoãn lại cho đến khi có bằng chứng chắc chắn rằng giá cả đang thật sự hạ nhiệt.

Trong bức tranh lạm phát đó, một yếu tố âm ỉ là tác động của các chính sách thuế quan từ chính quyền Trump. Các nhà kinh tế của Fed đánh giá rằng các loại thuế áp lên hàng hóa nhập khẩu, vốn gây áp lực giá trong ngắn hạn, có thể giảm dần vào cuối năm nay, qua đó giúp lạm phát hạ nhiệt.

nguồn : cafef.vn

Điểm tựa pháp lý mới cho doanh nghiệp

Tạo cơ chế giải quyết tranh chấp đặc thù, vượt trội, công bằng

Giữa tháng 12/2025, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành ngay từ ngày 1/1/2026, tuần qua, Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế đã được công bố tại buổi họp báo của Văn phòng Chủ tịch nước.

Đây là đạo luật được chuẩn bị gấp rút để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn: sự ra đời của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.

Bên cạnh chính sách đặc thù, vượt trội về ngoại hối, ngân hàng, thuế… thì cơ chế giải quyết tranh chấp trong Trung tâm tài chính quốc tế đã trở thành một yếu tố quan trọng để cạnh tranh và thu hút đầu tư giữa các quốc gia.

Bởi thế, Dự án Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế đã được bổ sung vào Chương trình lập pháp năm 2025, trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ mười (theo trình tự, thủ tục rút gọn).

Song, khi Kỳ họp thứ mười đang diễn ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn phải báo cáo Quốc hội lùi thời điểm xem xét dự án luật, để việc chuẩn bị hồ sơ được kỹ càng hơn.

Rồi, qua thảo luận tổ, hội trường, các quy định tại dự thảo luật, trong đó có thủ tục tố tụng, đã hoàn thiện hơn.

“Cần phải có quy tắc tố tụng đặc thù, vượt trội để thu hút và tạo niềm tin cho nhà đầu tư với quy trình tố tụng nhanh chóng, kịp thời. Hiện Tòa án Nhân dân Tối cao đã có kế hoạch phối hợp xây dựng quy tắc tố tụng này, có tham khảo kinh nghiệm những nơi đã thành công trên thế giới”, Phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Nguyễn Văn Tiến nhấn mạnh tại cuộc họp báo.

Liên quan quy định về thẩm phán, Luật nêu rõ thẩm phán tòa án chuyên biệt là người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam.

Thẩm phán là người nước ngoài phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn, điều kiện như đã hoặc đang là thẩm phán nước ngoài; luật sư, chuyên gia có uy tín, phẩm chất đạo đức tốt, kiến thức chuyên môn phù hợp, am hiểu pháp luật về đầu tư, kinh doanh; có ít nhất 10 năm kinh nghiệm tham gia xét xử, giải quyết vụ việc liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Thẩm phán người nước ngoài cũng phải có năng lực tiếng Anh để xét xử, giải quyết vụ việc tại tòa án chuyên biệt và không quá 75 tuổi, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Thẩm phán là công dân Việt Nam phải có uy tín, phẩm chất đạo đức tốt, kiến thức chuyên môn phù hợp, am hiểu pháp luật về đầu tư, kinh doanh; có ít nhất 10 năm kinh nghiệm tham gia xét xử, giải quyết vụ việc liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh. Đặc biệt, Luật nêu rõ yêu cầu “phải có năng lực tiếng Anh để xét xử, giải quyết vụ việc tại Tòa án chuyên biệt”.

Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và nhiệm kỳ của thẩm phán là 5 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.

Về số lượng thẩm phán, ông Tiến cho biết, đã giao cho các cơ quan tham mưu tìm những người có kinh nghiệm chuyên sâu, am hiểu pháp luật đầu tư, kinh doanh về tài chính quốc tế, có kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp quốc tế.

Ưu tiên đặc biệt cơ hội phục hồi cho doanh nghiệp

Cũng tại cuộc họp báo tuần trước, Phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Nguyễn Văn Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết ban hành Luật Phục hồi, phá sản (được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ mười và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2026).

Nhìn lại cả quá trình, không gấp rút như Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế, dự thảo Luật Phục hồi, phá sản đã được Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội tiến hành thẩm tra từ tháng 4/2025. Ngay từ bản thảo đầu tiên, bên cạnh mục tiêu giải quyết vụ việc phá sản hiệu quả hơn, việc tạo hành lang pháp lý thuận lợi để doanh nghiệp phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu tiên đặc biệt.

Đó cũng là lý do cơ quan chủ trì soạn thảo (Tòa án Nhân dân Tối cao) kiên trì thuyết phục đổi tên “Luật Phá sản” thành “Luật Phục hồi, phá sản”.

Việc này để phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật, thủ tục phục hồi và thủ tục phá sản là hai thủ tục độc lập, đồng thời thể hiện rõ mục tiêu, định hướng xây dựng Luật là khuyến khích, ưu tiên phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã ngay từ khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán để giúp doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ hội hồi sinh và tiếp tục đóng góp cho nền kinh tế, theo lời Phó chánh án Nguyễn Văn Tiến.

Từ định hướng đó, Luật đã dành cả Chương II để bổ sung thủ tục phục hồi là thủ tục độc lập theo hướng ưu tiên áp dụng phục hồi để tạo cơ hội và nâng cao hiệu quả phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, kịp thời hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế.

Theo đó, doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán (là doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 6 tháng hoặc khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá 6 tháng) hoặc đã mất khả năng thanh toán (là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 6 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán) có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi.

Người nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi phải nộp kèm theo phương án phục hồi hoạt động kinh doanh; danh sách chủ nợ, người mắc nợ và tài liệu, chứng cứ kèm theo để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp để Tòa án xem xét, quyết định.

Ngoài ra, Luật cũng bổ sung chính sách đặc thù phù hợp với chính sách quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã và điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay mà có tính đồng thuận cao để khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã nộp đơn phục hồi; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi như: khoanh tiền thuế nợ, tạm dừng thanh toán một số khoản nợ; tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất…

Nguồn: Báo đầu tư

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh làm việc với Công ty Cổ phần Giấy An Hòa

Công ty cổ phần Giấy An Hòa được thành lập năm 2002, là Chủ đầu tư của Nhà máy Bột giấy tẩy trắng và Nhà máy giấy cao cấp An Hòa trên diện tích 223 ha tại thôn An Hoà, xã Bình Ca, tỉnh Tuyên Quang. Năm 2025, sản lượng sản xuất của Công ty đạt 255.000 tấn, doanh thu đạt trên 2.800 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 5 triệu đô la Mỹ, nộp ngân sách nhà nước trên 125 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho trên 800 lao động với thu nhập bình quân đạt 13.450.000 đồng/người/ tháng.

Tại buổi làm việc, lãnh đạo Công ty Cổ phần Giấy An Hòa báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 2025 với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và Đoàn công tác; đồng thời kiến nghị tỉnh quy hoạch và điều tiết các cơ sở sản xuất gỗ chế biến, viên nén trong địa bàn tỉnh cho phù hợp để đảm bảo sự ổn định về nguồn cung cấp nguyên liệu và chi phí thu mua dăm gỗ của Nhà máy; có chính sách bảo hộ hợp lý đối với các sản phẩm bột giấy và giấy của các đơn vị sản xuất trong nước; có sự hỗ trợ, giúp đỡ của Sở Công thương trong việc xin cấp các giấy phép nhập khẩu liên quan đến hàng hóa phục vụ sản xuất của công ty cũng như tìm kiếm các khách hàng xuất khẩu.

Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy ghi nhận và biểu dương những đóng góp của Công ty Cổ phần Giấy An Hòa vào sự phát triển kinh tế – xã hội chung của tỉnh Tuyên Quang, đặc biệt là nộp ngân sách, giải quyết việc làm cho con em địa phương. Để doanh nghiệp phát triển bền vững trong thời gian tới, Bí thư Tỉnh ủy đề nghị Công ty Cổ phần Giấy An Hoà quy hoạch vùng nguyên liệu ổn định, có sự gắn kết với các cơ quan quản lý nhà nước, người dân và các cơ sở cùng ngành nghề đảm bảo hài hòa; phân bổ tỷ lệ lao động người địa phương hợp lý để đào tạo, bồi dưỡng, tiếp nhận vào công ty làm việc tạo sự gắn kết giữa nhà nước – doanh nghiệp và người dân; tiếp tục đầu tư, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế; tuyệt đối tuân thủ các quy định về môi trường, đảm bảo không ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân khu vực xã Bình Ca và các vùng lân cận; tiếp tục quan tâm, thực hiện tốt các chế độ an sinh xã hội, xây dựng môi trường làm việc an toàn, hiện đại.

Đồng chí cũng mong muốn Công ty phối hợp chặt chẽ với các ngành, địa phương để quy hoạch và phát triển diện tích rừng trồng, giúp người dân làm giàu từ nghề rừng; đồng thời khẳng định, tỉnh Tuyên Quang sẽ luôn đồng hành, tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Giấy An Hòa yên tâm đầu tư và mở rộng sản xuất.

dong_chi_bi_thu_tinh...lam_viec_voi_cty_cp_giay_an_hoa_a2

Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh kiểm tra nguyên liệu làm giấy của Công ty Cổ phần Giấy An Hòa.

Đối với các kiến nghị của Công ty, đồng chí đề nghị các sở, ban, ngành liên quan cùng phối hợp chặt chẽ, xử lý dứt điểm, tất cả vì mục tiêu doanh nghiệp phát tài, Tuyên Quang phát triển.

dong_chi_bi_thu_tinh...lam_viec_voi_cty_cp_giay_an_hoa_a3

Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh thăm các sản phẩm của Công ty Cổ phần Giấy An Hòa

dong_chi_bi_thu_tinh...lam_viec_voi_cty_cp_giay_an_hoa_a4

Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh thăm quan Trạm quan trắc môi trường của Công ty Cổ phần Giấy An Hòa.

dong_chi_bi_thu_tinh...lam_viec_voi_cty_cp_giay_an_hoa_a5

Bí thư Tỉnh ủy Hầu A Lềnh tặng quà, động viên cán bộ. công nhân Công ty Cổ phần Giấy An Hòa.

Tham quan dây chuyền sản xuất, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đã thăm hỏi, động viên tinh thần công nhân viên đang làm việc tại các phân xưởng, đồng thời kiểm tra quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải, bảo vệ môi trường của Công ty.

Nguồn: Baotuyenquang.vn

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước

Sau đây là toàn văn Nghị quyết số 79-NQ/TW:

Kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng của kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng, như: Đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, các công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư xây dựng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, đơn vị sự nghiệp công lập…

Sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Chính sách pháp luật về kinh tế nhà nước chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn phát triển của nền kinh tế. Quản lý, khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực, tài sản của Nhà nước chưa thực sự hiệu quả, chưa gắn với yêu cầu hạch toán kinh tế đầy đủ, còn lãng phí, thất thoát, chưa thể hiện rõ vai trò chủ đạo, chi phối trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp nhà nước-lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ; năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; chưa đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu. Hệ thống tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập chưa tinh gọn, cơ chế hoạt động và tự chủ tài chính chậm đổi mới; lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ còn chậm, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu. Một số tồn tại, vướng mắc kéo dài, chưa được xử lý kịp thời, gây lãng phí, thất thoát.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên, nhưng chủ yếu là do còn hạn chế về tư duy, nhận thức đối với vị trí, vai trò, phạm vi của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng; chưa giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa Nhà nước-thị trường-xã hội; thể chế pháp luật chưa đồng bộ, còn vướng mắc, bất cập; tổ chức thực hiện có lúc, có nơi còn chưa nghiêm; công tác phối hợp trong quản lý, sử dụng và hành động giữa các cơ quan chưa thực sự hiệu quả; trình độ đội ngũ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; ý thức trách nhiệm, đặc biệt là đối với người đứng đầu, trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước chưa cao, thậm chí cố tình làm sai để tham nhũng; công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát có mặt còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý.

Nhằm phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế nhà nước, góp phần hiện thực hoá mục tiêu đưa đất nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045 nhân kỷ niệm 100 năm thành lập Nước, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả một số chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế nhà nước.

I- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

1. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.

2. Kinh tế nhà nước bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển; cùng với các thành phần kinh tế trong nước, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.

3. Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực; quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí. Đánh giá tác động và phân tích lợi ích – chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước – thị trường – xã hội. Tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hoá, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động kinh doanh.

4. Kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng công nghệ tiên tiến, mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế. Chú trọng xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng thương mại nhà nước lớn, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt, tạo động lực thúc đẩy các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược, có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu hoặc các ngành, lĩnh vực thiết yếu. Phát huy vai trò của các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trong mối quan hệ liên kết, hợp tác nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ.

5. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước, nhất là trong định hướng sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát; tăng cường công khai, minh bạch, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và đề cao trách nhiệm giải trình; chú trọng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong quản lý, hoạt động và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước.

II- MỤC TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát

Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030

– Về đất đai, tài nguyên: Quản lý, khai thác, huy động và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững; bảo đảm quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.

– Về tài sản kết cấu hạ tầng: Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược, đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, liên tỉnh, khu vực và thế giới.

– Về ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách: Tỉ lệ huy động nguồn ngân sách giai đoạn 2026 – 2030 khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; tỉ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 35 – 40% tổng chi ngân sách, tỉ trọng chi thường xuyên khoảng 50 – 55% tổng chi ngân sách. Phấn đấu mức dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP vào năm 2030. Rà soát, sắp xếp, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.

– Về doanh nghiệp nhà nước: Phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 – 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế; 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

– Về tổ chức tín dụng nhà nước: Phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống ngân hàng.

– Về đơn vị sự nghiệp công lập: Tiếp tục xã hội hoá mạnh mẽ cung cấp các dịch vụ công; tiếp tục tinh gọn đầu mối, phấn đấu chỉ còn các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

3. Tầm nhìn đến năm 2045

Kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, cung ứng dịch vụ công chất lượng cao, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội; cùng với các khu vực kinh tế khác hiện thực hoá mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Phấn đấu đến năm 2045, mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

Bộ Chính trị yêu cầu tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp đã xác định tại các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nguồn lực đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài sản kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập… đồng thời, tập trung triển khai mạnh mẽ, thực chất các nhiệm vụ, giải pháp dưới đây:

1. Nhiệm vụ, giải pháp chung

– Quán triệt đầy đủ, sâu sắc trong cả hệ thống chính trị và toàn xã hội các quan điểm, chủ trương của Đảng về kinh tế nhà nước. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy trong lãnh đạo, chỉ đạo; chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, hành động quyết liệt.

– Hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế; thực hiện pháp luật nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả; tăng cường kỷ luật – kỷ cương, phù hợp với các cam kết quốc tế. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong các hoạt động phát triển kinh tế nhà nước; phân định rõ chức năng sở hữu, chức năng quản lý kinh tế, chức năng thực hiện các nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận với chức năng kinh doanh.

– Tạo lập môi trường thuận lợi, công bằng, minh bạch cho các khu vực kinh tế trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia, khuyến khích hợp tác công tư trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hạch toán kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất của Nhà nước gắn với trách nhiệm giải trình; giảm thiểu can thiệp hành chính trực tiếp, giảm chi phí tuân thủ; áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

– Xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý, chuyên gia trong các cơ quan, tổ chức kinh tế nhà nước, bảo đảm thu nhập tương xứng, phù hợp với thị trường lao động. Có chính sách hiệu quả nhằm thu hút và trọng dụng nhân tài gắn với tiêu chuẩn năng lực, đạo đức nghề nghiệp, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

– Xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi. Thiết lập quy trình xem xét độc lập, toàn diện và minh bạch để đánh giá bản chất vụ việc là sai sót khách quan hay vi phạm pháp luật nhằm xử lý đúng người, đúng tội.

– Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia; trong đó, dữ liệu về chủ thể và các nguồn lực của kinh tế nhà nước được chuẩn hoá, quản lý thống nhất, cập nhật thường xuyên, bảo đảm liên thông, tích hợp, chia sẻ, an toàn, an ninh thông tin, dữ liệu, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; khai thác, sử dụng dữ liệu để kịp thời giám sát, đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng vốn, tài sản, nguồn lực nhà nước, làm căn cứ cho hoạch định chính sách, phân bổ và điều tiết nguồn lực.

– Chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chồng chéo, trùng lặp, kéo dài, không cần thiết; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán trên nền tảng số, bảo đảm thống nhất với lộ trình kế hoạch chuyển đổi số tại các bộ, cơ quan, địa phương và doanh nghiệp. Xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi lạm dụng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán để gây khó khăn cho các tổ chức, đơn vị; các vụ việc gây thất thoát, lãng phí, tiêu cực, bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa từ sớm, từ xa; thu hồi tối đa cho Nhà nước những tài sản, kinh phí bị sử dụng sai mục đích hoặc bị chiếm đoạt, không để gây ra hệ luỵ ảnh hưởng đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống của Nhân dân. Có các giải pháp cụ thể đẩy nhanh việc xử lý các dự án, công trình tồn đọng kéo dài nhằm khơi thông và phát huy tối đa hiệu quả các nguồn lực.

2. Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể

2.1. Đối với đất đai và tài nguyên

– Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về đất đai và tài nguyên; phân cấp, phân quyền hợp lý trong quản lý, khai thác và sử dụng. Xây dựng thể chế để huy động, sử dụng và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai, biển, đảo, đa dạng sinh học, các khu bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn biển.

Khẳng định đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Phấn đấu đến hết năm 2026 hoàn thiện việc đo đạc, thống kê, số hoá, làm sạch hệ thống dữ liệu đất đai trên toàn quốc, kết nối, chia sẻ liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia khác; rà soát chính xác các loại đất để có phương án điều chỉnh quy hoạch phù hợp trên cơ sở bảo đảm an ninh lương thực quốc gia kết hợp nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo quỹ đất hợp lý cho phát triển công nghiệp và dịch vụ, đô thị, thúc đẩy việc quản lý, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với nhu cầu thực tế và có tầm nhìn dài hạn. Tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý đất đai, trước mắt trong năm 2026 hoàn thành việc xây dựng và ban hành Luật Đất đai sửa đổi và các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong quản lý đất đai, khơi thông nguồn lực từ đất đai. Có cơ chế, chính sách bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận đất đai; ưu tiên bố trí quỹ đất cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị, nhà ở xã hội; làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và cương quyết thu hồi đất bỏ hoang, sử dụng sai mục đích, lãng phí.

– Hiện đại hoá quản trị nhằm điều hoà, phân phối, sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm, hiệu quả, công bằng, hợp lý giữa các đối tượng sử dụng, ngành kinh tế, bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh năng lượng. Áp dụng công cụ kinh tế, tài chính để tạo cơ chế hạch toán và chia sẻ lợi ích trong quản lý, khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, công bằng, bền vững, nâng cao giá trị của tài nguyên nước.

– Điều tra, thăm dò, thống kê đầy đủ các nguồn tài nguyên, khoáng sản để thống nhất quản lý, sử dụng có hiệu quả. Có cơ chế, chính sách phù hợp để thúc đẩy việc tiếp cận, tiến tới làm chủ công nghệ khai thác, chế biến sâu các loại khoáng sản, nhất là những loại khoáng sản chiến lược cho các ngành công nghiệp công nghệ cao. Khuyến khích các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài nhằm thăm dò, khai thác, chế biến các loại khoáng sản trong nước chưa có hoặc trữ lượng hạn chế.

– Có cơ chế quản lý tập trung, liên ngành, bảo đảm khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên biển, đảo. Tăng cường điều tra cơ bản, xây dựng hệ thống dữ liệu các loại tài nguyên khu vực biển, đảo, có kế hoạch khai thác, sử dụng hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế kết hợp bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền đất nước. Phát triển nhanh và bền vững các loại năng lượng sạch, xanh từ biển; ưu tiên phát triển điện gió ngoài khơi. Nâng cao năng lực dự báo và giám sát môi trường biển; có cơ chế thúc đẩy việc nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản vùng biển xa với công nghệ hiện đại, bền vững, phù hợp luật pháp quốc tế. Xây dựng và phát triển các trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá, cảng lưỡng dụng quân – dân sự tại các đảo, vị trí trọng yếu. Ưu tiên xây dựng các công trình hạ tầng biển, đảo trọng yếu khác nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, an ninh. Kinh tế biển phải trở thành một cấu phần quan trọng trong kinh tế nhà nước.

– Hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác và bảo vệ vùng trời, khu nhận diện phòng không; hiện đại hoá hệ thống quản lý bay, bảo đảm an toàn, an ninh không phận. Ban hành cơ chế vượt trội, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, triển khai các khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để thúc đẩy phát triển kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp, ngành công nghiệp hàng không, vũ trụ.

– Tập trung xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách quản lý, khai thác, sử dụng không gian ngầm. Đẩy mạnh công tác quy hoạch tích hợp không gian ngầm với quy hoạch đô thị và hạ tầng; phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu, bản đồ số hoá không gian ngầm thống nhất, hiện đại. Khuyến khích các hình thức huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công tư trong đầu tư, khai thác công trình ngầm; tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ tiên tiến.

– Hoàn thiện đồng bộ khung pháp luật về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên số và tài nguyên viễn thông để phát triển thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu. Thúc đẩy hợp tác công tư trong phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ số tiên tiến. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh đối với hoạt động phát triển kinh tế số. Chủ động đấu tranh phòng, chống hoạt động lợi dụng công nghệ số, giao dịch điện tử… để xâm phạm lợi ích của Nhân dân, an ninh kinh tế và an ninh quốc gia. Thực thi hiệu quả các chính sách để đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia trở thành nguồn lực chiến lược.

2.2. Đối với tài sản kết cấu hạ tầng

– Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, đồng bộ, hiện đại, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển và dịch chuyển của các ngành kinh tế trong khu vực và trên thế giới, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và thích ứng biến đổi khí hậu, gia tăng khả năng chống chịu các hình thái thời tiết cực đoan. Bảo đảm quy hoạch đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả và tận dụng tối đa chức năng của các loại hình kết cấu hạ tầng. Khuyến khích mở rộng việc áp dụng các hình thức đầu tư theo phương thức công – tư như “đầu tư công – quản trị tư”, “đầu tư tư – sử dụng công” và các hình thức hợp tác công tư khác để xây dựng và quản lý, vận hành hiệu quả nhất các công trình kết cấu hạ tầng.

– Khẩn trương bổ sung khung pháp lý về quản lý, khai thác, sử dụng đối với các loại tài sản kết cấu hạ tầng văn hoá, thể thao, du lịch, hạ tầng các khu công nghiệp, công nghệ cao, khu chế xuất, khu kinh tế, khu thương mại tự do, khu trung tâm tài chính quốc tế,… do Nhà nước đầu tư để huy động nguồn lực ngoài ngân sách cùng tham gia trên cơ sở bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

2.3. Đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống

a) Ngân sách nhà nước

– Đổi mới quản lý, điều hành ngân sách nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, đặt trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế và gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới. Phân định rõ vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực ngân sách.

– Chủ động nghiên cứu và xây dựng lộ trình phù hợp để triển khai các loại thuế mới liên quan đến tài sản, mức phát thải carbon,… bảo đảm bao quát các nguồn thu, mở rộng cơ sở thuế, tăng tính bền vững cơ cấu nguồn thu, nâng cao tính công khai, minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế; hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội trong chính sách thu; hiện đại hoá quy trình, công tác quản lý thu, giảm tối đa chi phí tuân thủ; có chính sách tạo nguồn thu và nuôi dưỡng nguồn thu, khơi thông nguồn lực cho phát triển.

– Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trên cơ sở củng cố vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, tăng tính chủ động và tự chủ cho ngân sách địa phương; phân cấp các nhiệm vụ chi ngân sách gắn trực tiếp quyền lợi và trách nhiệm của từng cấp, bảo đảm nguyên tắc cấp nào thực hiện hiệu quả, kịp thời nhất thì giao cho ngân sách cấp đó thực hiện.

– Phân bổ vốn đầu tư công tập trung, tránh dàn trải, manh mún. Ngân sách trung ương tập trung đầu tư các công trình hạ tầng chiến lược, kết nối liên vùng, khu vực và quốc tế, các dự án có tính chất đột phá về phát triển kinh tế – xã hội. Địa phương chủ động quyết định đầu tư theo quy hoạch và khả năng cân đối nguồn lực, phục vụ tốt nhất các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn, theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật quản lý đầu tư công nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng, giải ngân vốn đầu tư công.

– Hạn chế tối đa việc quy định cụ thể tỉ lệ chi ngân sách nhà nước cho từng ngành, lĩnh vực, đối tượng (trừ những ngành, lĩnh vực có quy định riêng theo các nghị quyết của Đảng) nhằm bảo đảm tính linh hoạt, hiệu quả trong phân bổ, bố trí nguồn ngân sách nhà nước, phù hợp với các ưu tiên chính sách trong từng năm, từng giai đoạn cụ thể.

– Đa dạng hoá các kênh huy động vốn cho ngân sách. Bảo đảm nguyên tắc, cân đối ngân sách chỉ vay cho chi đầu tư phát triển và trong phạm vi khả năng trả nợ. Phát triển và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về nợ công có tính kết nối giữa Trung ương và địa phương, phục vụ công tác điều hành tài khoá chủ động, hiệu quả. Tăng cường công khai, minh bạch thông tin về nợ công; xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công trung hạn, gắn với kiểm soát rủi ro và năng lực trả nợ; bố trí nguồn trả nợ hằng năm đầy đủ, đúng hạn.

b) Dự trữ quốc gia

– Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế dự trữ quốc gia bảo đảm đồng bộ; tích hợp định hướng yêu cầu duy trì nguồn lực dự trữ quốc gia trong các chiến lược về quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

– Rà soát danh mục hàng hoá, củng cố hệ thống kho tàng, tăng cường đầu tư, cải cách quy trình, thủ tục xuất cấp để dự trữ quốc gia thực sự trở thành nguồn lực dự trữ chiến lược, cho phép Nhà nước có đủ năng lực can thiệp, điều tiết, cứu trợ, hỗ trợ kịp thời, hiệu quả trong các tình huống thiên tai, dịch bệnh, thảm hoạ, nhanh chóng ổn định đời sống người dân, đáp ứng yêu cầu cấp bách quốc phòng, góp phần thực hiện an sinh xã hội, duy trì ổn định thị trường, trật tự, an toàn xã hội, tham gia triển khai các hoạt động cứu trợ nước ngoài, đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

– Quy hoạch, đầu tư phát triển hệ thống kho tàng, hạ tầng bảo quản, ứng dụng công nghệ hiện đại, xây dựng hệ thống kho dự trữ quốc gia thông minh. Nghiên cứu cơ chế đầu tư kho, bảo quản hàng dự trữ quốc gia theo phương thức hợp tác công tư.

– Nghiên cứu xây dựng cơ chế đặc thù trong mua, bán, nhập, xuất, chuyển đổi mục đích, luân chuyển hàng dự trữ quốc gia để chủ động, linh hoạt, kịp thời, bảo đảm yêu cầu trong mọi tình huống. Có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp tham gia một số hoạt động dự trữ quốc gia theo nguyên tắc thị trường.

– Tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực dự trữ quốc gia của các quốc gia tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; nghiên cứu cơ chế chia sẻ nguồn lực cần thiết, nhất là qua cơ chế dự trữ khu vực ASEAN, ASEAN+3,… để tăng tính kịp thời, chủ động, hiệu quả trong xử lý các tình huống khẩn cấp.

c) Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách

– Tiếp tục hoàn thiện khung thể chế, tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.

– Rà soát, sáp nhập, giải thể các quỹ ngoài ngân sách trùng lặp, kém hiệu quả, không phù hợp với yêu cầu phát triển; giảm đầu mối để tăng quy mô, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các quỹ; tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình quản lý, sử dụng các quỹ; đẩy mạnh số hoá, công khai thông tin và kết quả hoạt động. Tăng cường cơ chế uỷ thác quản lý tài chính quỹ cho các tổ chức ngân hàng, công ty tài chính chuyên nghiệp; các cơ quan nhà nước chỉ tập trung xây dựng tiêu chí, điều kiện huy động và giải ngân vốn từ quỹ. Tăng cường huy động nguồn lực xã hội hoá và giảm phụ thuộc vào ngân sách.

– Không hình thành mới quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, trừ các trường hợp cấp bách, cấp thiết theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

d) Vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống

Chuyển giao vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống cho doanh nghiệp có chức năng kinh doanh và đầu tư vốn nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cùng ngành nghề để quản lý, đầu tư phát triển, thực hiện trách nhiệm của chủ sở hữu đối với phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp (tái cơ cấu, bổ sung vốn hoặc thoái vốn), bảo đảm hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.

2.4. Đối với doanh nghiệp nhà nước

a) Tiếp tục củng cố, phát triển, bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội

– Tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế như: Quốc phòng, an ninh; năng lượng; vận tải, logistics; tài chính – ngân hàng; khoa học – công nghệ, điện tử – viễn thông, hạ tầng số; khai thác, chế biến khoáng sản chiến lược; hoá chất; xây dựng, vật liệu xây dựng; nông, lâm nghiệp; …

Có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thông qua tăng vốn điều lệ, bao gồm: Cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tăng tỉ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp; rà soát, đánh giá lại tài sản đã hết khấu hao nhưng còn giá trị sử dụng. Khuyến khích hợp nhất, sáp nhập, chuyển giao các doanh nghiệp nhằm phát huy lợi thế tổng thể của ngành kinh tế.

Đối với dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư ở nước ngoài do cấp có thẩm quyền giao ngoài kế hoạch của doanh nghiệp, Nhà nước có chính sách bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất và cung cấp đủ tín dụng.

– Khuyến khích doanh nghiệp nhà nước đầu tư, liên kết với các doanh nghiệp khác trong chuỗi giá trị thuộc lĩnh vực kinh doanh chính hoặc các doanh nghiệp công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm hình thành các doanh nghiệp, nhóm liên kết doanh nghiệp tiên phong, dẫn dắt, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát huy lợi thế, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực xã hội, tránh chồng chéo, cạnh tranh không lành mạnh, bảo đảm lợi ích hài hoà, tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

– Doanh nghiệp nhà nước sử dụng các nguồn lực để chủ động dẫn dắt, kích hoạt và huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư, tạo sức lan toả và hiệu ứng cộng hưởng trong phát triển kinh tế.

b) Thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững

– Khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước đẩy mạnh và tiên phong hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; các tập đoàn, tổng công ty phải xây dựng, hình thành trung tâm nghiên cứu – phát triển, phòng thí nghiệm để tiên phong thực hiện chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, từng bước làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và tăng sức cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp; hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương và đồng hành với các chủ thể kinh tế khác triển khai chuyển đổi số. Khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào các lĩnh vực giảm phát thải khí nhà kính, hấp thụ khí thải nhà kính, phát triển kinh tế tuần hoàn sử dụng nguyên liệu đầu vào là thành phần gây ảnh hưởng môi trường.

– Kết quả nghiên cứu, phát triển do doanh nghiệp nhà nước thực hiện thành công phải được ứng dụng vào thực tế trong các khâu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, đồng thời có cơ chế thương mại để chia sẻ, lan toả công nghệ nhằm thúc đẩy doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế khác cùng phát triển. Nhà nước có cơ chế đặt hàng đối với các sản phẩm công nghệ do các doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, chế tạo, có chất lượng tương đương hàng nhập khẩu, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận thị trường, nâng cao năng lực tiếp tục hoàn thiện, phát triển sản phẩm.

– Doanh nghiệp nhà nước được quyết định sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ để chủ động triển khai hoặc đặt hàng nghiên cứu phát triển bên ngoài theo cơ chế khoán sản phẩm. Có cơ chế cho phép các doanh nghiệp nhà nước tự hình thành hoặc liên kết với Nhà nước và các doanh nghiệp khác hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm. Khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước tham gia mở rộng, nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc tham gia vào các dự án đầu tư, hợp đồng chuyển giao công nghệ và thương vụ mua bán, sáp nhập gắn với hoạt động chuyển giao công nghệ.

c) Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp

– Hoàn thiện quy định xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các chức danh quản lý trong hệ thống quản trị của doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm trách nhiệm đi đôi với quyền hạn; cơ chế giám sát hoạt động, trách nhiệm giải trình của người đại diện phần vốn nhà nước, các chức danh quản lý tại doanh nghiệp gắn với việc nâng cao tiêu chuẩn, điều kiện, tăng cường phân công, phân cấp.

– Thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích. Kiên quyết thay thế, miễn nhiệm những người thiếu trách nhiệm, yếu kém để xảy ra thất thoát, lãng phí, gây ảnh hưởng tiêu cực, làm trì trệ, kìm hãm sự phát triển và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

– Thực hiện có hiệu quả cơ chế tiền lương, bảo đảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong việc thu hút nguồn lực chất lượng cao. Xây dựng cơ chế thưởng tại doanh nghiệp theo tỉ lệ đối với phần lợi nhuận vượt kế hoạch, gắn với nâng cao chất lượng công tác lập và giao kế hoạch của doanh nghiệp, bảo đảm chặt chẽ, sát thực tiễn. Có cơ chế để doanh nghiệp cổ phần được chủ động hình thành quỹ cổ phiếu thưởng nhằm thu hút, giữ chân người lao động có trình độ cao về chuyên môn, quản lý, có đóng góp lớn cho sự phát triển của doanh nghiệp trên nguyên tắc bảo đảm minh bạch, khách quan, không ảnh hưởng tới quyền kiểm soát của cổ đông nhà nước. Thí điểm cơ chế đặc thù về thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm giám đốc/tổng giám đốc tại một số doanh nghiệp nhà nước.

– Hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc đánh giá tổng thể trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ được giao, phản ánh đầy đủ lợi thế, các nguồn lực Nhà nước giao thông qua các chỉ số hiệu quả tài chính, phi tài chính được lượng hoá, minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế; hạch toán tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận.

– Khẩn trương rà soát, xử lý các dự án đầu tư yếu kém, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, xác định rõ và xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định, tạo điều kiện để doanh nghiệp phá sản hoặc tiếp tục tái cơ cấu, hoạt động lành mạnh trở lại, tránh để kéo dài gây lãng phí, thất thoát tài sản, nguồn vốn, giảm thiểu thiệt hại cho nhà nước, doanh nghiệp.

– Nghiên cứu đổi mới hoàn thiện mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu, mô hình Hội đồng thành viên bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn từng thời kỳ.

d) Tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước

– Tập trung cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước một cách thực chất, hiệu quả, giảm đầu mối, tăng quy mô nhằm thực hiện tốt hơn vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh mới; khuyến khích các tập đoàn, tổng công ty đầu tư ra nước ngoài trong các lĩnh vực doanh nghiệp có lợi thế so sánh, nhu cầu thị trường lớn, có khả năng tiếp cận công nghệ mới, góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu truyền thống và phát triển thị trường mới để hình thành các tập đoàn đa quốc gia. Đẩy mạnh công tác ngoại giao kinh tế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường ra nước ngoài, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thúc đẩy hợp tác chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.

– Tiếp tục thực hiện lộ trình cổ phần hoá để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thu hút thêm sự tham gia từ các khu vực kinh tế khác nhằm tăng cường năng lực quản trị, cải thiện công nghệ, nguồn lực tài chính để doanh nghiệp phát triển sau cổ phần hoá. Việc cổ phần hoá phải bảo đảm không ảnh hưởng đến kiểm soát của Nhà nước trong những lĩnh vực then chốt, chiến lược, không làm mất đi các thương hiệu quốc gia có uy tín và không làm thất thoát tài sản của Nhà nước.

– Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì có cơ chế, lộ trình phù hợp nhằm: (i) Sáp nhập với các doanh nghiệp nhà nước khác để hình thành chuỗi giá trị, tăng quy mô, hiệu quả hoạt động. (ii) Chuyển giao cho doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trung ương hoặc địa phương để rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng và phân loại để có giải pháp cơ cấu lại vốn phù hợp. Việc cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải dựa trên các tiêu chí công khai, minh bạch, hiệu quả, tuân thủ quy định pháp luật theo nguyên tắc Nhà nước làm những gì mà tư nhân không làm hoặc không có khả năng làm, những gì tư nhân làm được thì Nhà nước phải làm tốt hơn; các thương hiệu quốc gia có uy tín phải tiếp tục được đầu tư để hoạt động hiệu quả hơn.

– Tái cơ cấu toàn diện Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia. Tập trung nguồn lực từ cơ cấu lại vốn tại các doanh nghiệp và các nguồn lực nhà nước giao khác để: (i) Đầu tư phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, các doanh nghiệp có hiệu quả cao. (ii) Đầu tư vào dự án trong các ngành, lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, có tính chất quan trọng đối với nền kinh tế. (iii) Triển khai đầu tư trực tiếp và hỗ trợ các nguồn lực để doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài; thực hiện mua bán, sáp nhập để tiếp cận các công nghệ mới, công nghệ lõi, công nghệ và công nghiệp chiến lược hoặc vì mục tiêu lợi nhuận cao. Có cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình chuyển giao và quản lý vốn của SCIC tại các doanh nghiệp, bảo đảm việc cơ cấu lại doanh nghiệp, đầu tư vốn được thực hiện một cách hiệu quả, đúng giá thị trường và tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật.

– Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, đặc biệt là tái cơ cấu về tài chính, xử lý nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường.

2.5. Đối với các tổ chức tín dụng nhà nước

– Áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, nâng cao năng lực quản lý rủi ro; bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình. Xây dựng chiến lược chuyển đổi số toàn diện cho tổ chức tín dụng nhà nước; số hoá dịch vụ, dữ liệu, quản lý vốn theo thời gian thực; phát triển các dịch vụ ngân hàng số, mở rộng cung cấp sản phẩm tài chính trực tuyến đến mọi vùng miền của cả nước.

– Tổ chức, sắp xếp mạng lưới ngân hàng thương mại nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động. Tiếp tục tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước để nâng cao năng lực tài chính, tỉ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động.

– Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển Ngân hàng chính sách xã hội; cơ cấu lại toàn diện Ngân hàng phát triển Việt Nam nhằm đa dạng hoá nguồn lực, tăng vốn, tinh gọn, hiệu quả, phát huy sức mạnh Nhà nước trong đầu tư và an sinh xã hội, gắn nhiệm vụ chính sách với phát triển kinh tế – xã hội; tập trung vào các ngành, lĩnh vực, hạ tầng quan trọng, địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

2.6. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập

– Rà soát, sắp xếp danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; sắp xếp, tổ chức lại hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Bảo đảm kinh phí cho các dịch vụ công cơ bản, thiết yếu; kiên quyết không để việc thiếu nguồn lực (con người, tài chính,…) dẫn tới giảm chất lượng phục vụ người dân; chuyển các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hoá cao sang thực hiện theo cơ chế thị trường.

– Đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp tục chuyển mạnh từ cấp trực tiếp kinh phí cho các đơn vị sự nghiệp công lập sang hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng chính sách theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí khi sử dụng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, gắn với cơ chế kiểm soát; đơn giản hoá quy trình, thủ tục đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu; điều chỉnh giá, phí dịch vụ công theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí với lộ trình phù hợp khả năng chi trả người dân và cân đối ngân sách nhà nước, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, cạnh tranh.

– Khuyến khích tư nhân và các tổ chức xã hội tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công. Mở rộng, nâng cao hiệu quả cơ chế hợp tác công tư trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công có khả năng cạnh tranh; chú trọng cơ chế hợp tác về nhân lực, thương hiệu và công nghệ trên cơ sở bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng và nhiệm vụ được giao.

– Xây dựng cơ chế, chính sách chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập trong những ngành, lĩnh vực phù hợp thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

– Các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tối thiểu chi thường xuyên trở lên được tự chủ về tổ chức bộ máy, tiền lương và các khoản thù lao, đãi ngộ khác, tuyển dụng và sử dụng nhân sự theo kết quả hoạt động như doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Tập trung đầu tư phát triển đối với một số đơn vị sự nghiệp công lập quan trọng có tiềm lực, có khả năng cạnh tranh trong một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, ngành công nghệ chiến lược.

– Có cơ chế nâng cao hiệu quả hoạt động và minh bạch của các đơn vị sự nghiệp công lập. Nghiên cứu thực hiện mô hình quản trị và điều hành đơn vị sự nghiệp công lập theo tiêu chuẩn, chuẩn mực tiên tiến, hiện đại, minh bạch gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Thí điểm thành lập bộ phận có chức năng tư vấn chuyên sâu trong các đơn vị có quy mô lớn và thực hiện việc thuê giám đốc điều hành tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Không tổ chức Hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập; củng cố, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng trong đơn vị theo quy định.

– Đẩy mạnh kiểm định, đánh giá độc lập và công khai kết quả chất lượng dịch vụ sự nghiệp công theo tiêu chuẩn, tiêu chí do Bộ quản lý chuyên ngành, lĩnh vực ban hành. Hoàn thiện tiêu chí xếp hạng các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Ứng dụng công nghệ số để người dân trực tiếp đánh giá chất lượng, hiệu quả, mức độ hài lòng đối với các dịch vụ sự nghiệp công.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Đảng uỷ Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, ưu tiên các dự án luật trực tiếp phục vụ triển khai thực hiện Nghị quyết; tăng cường giám sát của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội đối với việc thực hiện theo quy định nhằm nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước.

2. Đảng uỷ Chính phủ: Thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai thực hiện Nghị quyết; chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động; phối hợp với Đảng uỷ Quốc hội kịp thời thể chế hoá đầy đủ các chủ trương, chính sách nêu tại Nghị quyết này và bố trí đủ nguồn lực để triển khai thực hiện; chủ trì chuẩn bị tài liệu quán triệt cùng với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tổ chức quán triệt Nghị quyết.

3. Đảng uỷ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch hành động với các nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình phù hợp và phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thực hiện.

4. Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch hướng dẫn, vận động Nhân dân thực hiện Nghị quyết, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển kinh tế nhà nước.

5. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng uỷ Chính phủ, các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức quán triệt và tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết đến chi bộ.

6. Đảng uỷ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các đảng uỷ trực thuộc Trung ương và địa phương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.

Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.

Nguồn: baochinhphu.vn

Tổng Bí thư Tô Lâm dự, chỉ đạo Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương

Cùng dự tại điểm cầu Trụ sở Chính phủ có các đồng chí: Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương.

Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì hội nghị. Hội nghị được truyền trực tuyến tới điểm cầu các tỉnh, thành phố trên cả nước.

Phát biểu ý kiến khai mạc hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, hôm nay, trong không khí phấn khởi của những ngày đầu năm mới 2026, cả nước nỗ lực thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Chính phủ long trọng tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc với các địa phương để đánh giá kết quả năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng nhiệt liệt chào mừng và trân trọng gửi tới đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quý vị đại biểu lời cảm ơn chân thành, lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân tình và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

ndo_br_a1.jpg

                      Hội nghị vinh dự được đón Tổng Bí thư Tô Lâm, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước chủ chốt tới dự. 

Thủ tướng nêu rõ, nhìn lại từ đầu nhiệm kỳ đến nay, chúng ta thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và 5 năm 2021-2025 trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp, nhiều vấn đề chưa có tiền lệ, vượt dự báo; nhìn chung khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ, thuận lợi; trong đó nổi bật là: đại dịch Covid-19 và hậu quả nặng nề kéo dài; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, xung đột quân sự leo thang ở nhiều nơi; xu hướng tăng trưởng, đầu tư, thương mại toàn cầu chậm lại; lạm phát và nợ công hầu hết các quốc gia tăng cao so trước đại dịch Covid-19; nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, chưa kịp hồi phục; rủi ro tài chính, tiền tệ gia tăng; an ninh truyền thống và phi truyền thống, dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu cực đoan gây thảm họa nặng nề.

Ở trong nước: tác động cộng hưởng của nhiều yếu tố tiêu cực bên ngoài, trong khi nước ta là nước đang phát triển, xuất phát điểm thấp, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi; nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất ngày càng nhiều, yêu cầu ngày càng cao; những hạn chế, bất cập nội tại nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ cần tập trung giải quyết; phải dành nhiều công sức, thời gian sắp xếp lại “giang sơn” ở cả Trung ương và địa phương; thảm họa thiên tai, bão lũ gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.

Thủ tướng khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Trung ương, mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, sự đồng hành của Quốc hội, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp và đã đạt những thành tựu quan trọng, nổi bật trên tất cả các lĩnh vực.

Đặc biệt, năm 2025 đạt tốc độ tăng trưởng 8,02% (thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao của khu vực, thế giới), đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; bội chi ngân sách nhà nước, nợ công thấp hơn giới hạn quy định; an sinh xã hội, đời sống nhân dân được bảo đảm; quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; uy tín, vị thế đất nước tiếp tục được nâng lên.

Tổng Bí thư Tô Lâm, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước chủ chốt tới dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương. (Ảnh: TRẦN HẢI)

                  Tổng Bí thư Tô Lâm, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước chủ chốt tới dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai công tác năm 2026 của Chính phủ và chính quyền địa phương.

Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, chúng ta thẳng thắn nhìn nhận còn một số hạn chế, bất cập, khó khăn cần có giải pháp khắc phục; trong đó chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh cần phải nỗ lực hơn nữa; áp lực điều hành ổn định kinh tế vĩ mô, tỷ giá, lãi suất còn lớn trước sức ép từ bên ngoài; tình trạng ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông chưa được xử lý hiệu quả; an toàn thông tin, an ninh mạng, an ninh trật tự trên một số địa bàn tiềm ẩn yếu tố phức tạp…

Trên tinh thần đó, Thủ tướng nêu một số vấn đề trọng tâm, mang tính gợi mở để Hội nghị tập trung thảo luận, cho thêm ý kiến:

Về bối cảnh tình hình năm 2025 và nhiệm kỳ 2021-2025 có gì đáng chú ý? Đâu là các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng lớn đến nước ta?

ndo_br_a4.jpg
                                                            Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu ý kiến khai mạc hội nghị. 

Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, chúng ta đã thực sự quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, có các giải pháp “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái”, “biến nguy thành cơ” chưa? Các cấp, các ngành, các địa phương đã thực sự bám sát tình hình, phản ứng chính sách chủ động, kịp thời, phù hợp, hiệu quả chưa?

Về kết quả năm 2025 và nhìn lại giai đoạn 2021-2025, đâu là điểm nổi bật? Đâu là số liệu chứng minh tăng trưởng cao và ổn định kinh tế vĩ mô? Kết cấu hạ tầng chiến lược có điểm gì nổi bật, đột phá? Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, đời sống nhân dân có gì tiến bộ? Kết quả xóa nhà tạm, nhà dột nát, xây dựng nhà ở xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ thế nào? Công tác quốc phòng, an ninh, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có điểm gì mới? Đâu là điểm sáng trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế? Triển khai chính quyền địa phương 2 cấp và tinh gọn bộ máy ở Trung ương cần phải tháo gỡ, thúc đẩy vấn đề gì?…

Về hạn chế, bất cập, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, đề nghị xác định rõ đâu là những điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc trong các lĩnh vực? Nguyên nhân khách quan, chủ quan là gì? Tại sao có nơi làm tốt, trong khi có nơi làm chưa tốt? Đồng thời chia sẻ những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn: Phải chăng đó là thực hiện quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước? Là cần nắm chắc tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, linh hoạt, hiệu quả? Hay cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và tăng cường kiểm tra, giám sát?…

Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2026 và thời gian tới, đề nghị phân tích rõ bối cảnh tình hình có gì mới cần có giải pháp đột phá? Trọng tâm chỉ đạo điều hành là gì? Cần phải quán triệt, triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và 10 Nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị thế nào? Đâu là giải pháp đột phá để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, gắn với ổn định kinh tế vĩ mô? Các đột phá về thể chế, hạ tầng, nhân lực phải làm gì? Phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại cần chú trọng vấn đề gì?…

Để tiết kiệm thời gian và được nghe nhiều ý kiến, Thủ tướng đề nghị các đại biểu phát biểu ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, góp ý trực tiếp vào các dự thảo Nghị quyết 01 và 02 năm 2026 của Chính phủ.

ndo_br_a6-8386.jpgThủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị các đại biểu phân tích rõ bối cảnh tình hình mới, các giải pháp đột phá, các trọng tâm chỉ đạo điều hành trong năm 2026. 

* Theo Bộ Tài chính, năm 2025 và tính chung cả giai đoạn 2021-2025, mặc dù nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề, kéo dài bởi đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu và những biến động nhanh, mạnh, khó lường của tình hình thế giới, nhưng chúng ta đã chủ động, sáng tạo, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, thích ứng linh hoạt với tình hình, nỗ lực “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái”.

Nước ta đã đạt được những kết quả ấn tượng, bao trùm, rất đáng trân trọng, tự hào; năm sau tốt hơn năm trước, nhiệm kỳ này tốt hơn nhiệm kỳ trước trên hầu hết các lĩnh vực, được nhân dân, doanh nghiệp đánh giá cao. Đặc biệt là năm 2025, đã đạt được mục tiêu tổng quát đề ra; tăng trưởng kinh tế đã tăng tốc, bứt phá mạnh mẽ, đạt 8% trở lên gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, tạo đà, tạo thế, tạo lực và tạo nền tảng vững chắc để bước vào kỷ nguyên mới.

Tính chung cả nhiệm kỳ, chúng ta đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu, xấp xỉ đạt 2/26 chỉ tiêu, chưa đạt 2/26 chỉ tiêu, trong đó vượt toàn bộ chỉ tiêu về xã hội, an sinh xã hội; các năm 2024, 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu kinh tế-xã hội. Tình hình kinh tế-xã hội bám sát kết quả Chính phủ đã báo cáo Trung ương, Quốc hội; nhiều chỉ tiêu, chỉ số đạt kết quả tốt hơn so với số ước thực hiện cả năm 2025 khi báo cáo Quốc hội tháng 10/2025.

Về kết quả đạt được: tăng trưởng kinh tế cao thuộc nhóm dẫn đầu thế giới; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm; khả năng chống chịu của nền kinh tế nước ta trước các cú sốc bên ngoài ngày càng được nâng lên. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%; bình quân giai đoạn 2021-2025 tăng 6,3%, cao hơn giai đoạn trước (6,2%) (năm 2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, tăng trưởng chỉ đạt 2,55%; giai đoạn 4 năm 2022-2025 tăng trưởng bình quân 7,13%/năm, vượt mục tiêu 6,5-7%). Quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới; GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, vào nhóm thu nhập trung bình cao. Cơ cấu kinh tế và chất lượng tăng trưởng chuyển biến tích cực.

ndo_br_a7-189.jpg Hội nghị có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương. 

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 3,31%, tính chung cả giai đoạn 2021-2025 duy trì dưới 4%. Thu ngân sách nhà nước năm 2025 đạt khoảng 2,65 triệu tỷ đồng, vượt 34,74% dự toán và tăng 30,3% so cùng kỳ, cao hơn mục tiêu Chính phủ đặt ra (vượt ít nhất 25% dự toán); cơ cấu thu theo hướng bền vững, chủ yếu là từ sản xuất kinh doanh trong khi đã giảm, gia hạn thuế, phí… khoảng 250,9 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ sản xuất, kinh doanh; tiết kiệm triệt để chi hành chính để bảo đảm chi cho quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội, bộ máy, phòng, chống thiên tai và phát triển kết cấu hạ tầng, trong đó đã bố trí đủ 3% tổng chi ngân sách nhà nước (tương đương 76 nghìn tỷ đồng) để thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW.

Thu ngân sách nhà nước 5 năm 2021-2025 đạt gần 9,88 triệu tỷ đồng, vượt 18,1% so mục tiêu, gấp gần 1,4 lần giai đoạn trước, vượt xa mục tiêu 8,3 triệu tỷ đồng trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí… khoảng 1,1 triệu tỷ đồng. Thị trường tài chính, tiền tệ, ngoại hối phát triển cơ bản ổn định, đã chuyển giao và đang tích cực triển khai đề án tái cơ cấu 4 ngân hàng mua bắt buộc. Nợ công giảm từ 44,3% GDP năm 2020 xuống còn khoảng 35-36% năm 2025 (giới hạn là 60% GDP); bội chi ngân sách nhà nước năm 2025 ước khoảng 3,6% GDP, bình quân 05 năm giảm từ 3,53% GDP giai đoạn 2016-2020 xuống 3,1-3,2% GDP giai đoạn này.

Thị trường chứng khoán đã được tổ chức FTSE nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đến hết năm 2025 đạt gần 9,98 triệu tỷ đồng, tương đương 77,9% GDP năm 2025. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động năm 2025 đạt gần 297,5 nghìn doanh nghiệp, cao nhất từ trước đến nay, tăng 27,4% so năm 2024; đến nay cả nước có gần 1,02 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng hơn 160 nghìn doanh nghiệp so năm 2024 và tăng trên 20% so năm 2020.

Các tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao kết quả chỉ đạo, điều hành, nâng hạng tín nhiệm và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam (IMF đánh giá Việt Nam nằm trong top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới; Standard Chartered dự báo Việt Nam thuộc nhóm 5 nước tăng trưởng nhanh nhất châu Á; Báo cáo B-Ready 2025 của WB đánh giá Việt Nam trong nhóm 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật trong năm 2025).

Các động lực tăng trưởng truyền thống đều phát huy hiệu quả. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 ước đạt trên 4,15 triệu tỷ đồng, chiếm 32,3% so GDP, tăng 12% so năm 2024; 5 năm ước đạt trên 17,3 triệu tỷ đồng, tăng 44% so giai đoạn trước, tương đương khoảng 33,2% GDP, đạt mục tiêu 32-34% GDP. Giải ngân vốn đầu tư công đến hết tháng 12/2025 đạt khoảng 755,14 nghìn tỷ đồng, đạt 82,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn 2,4% về tỷ lệ và gần 206,6 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối so cùng kỳ năm 2024; tính chung cả giai đoạn 2021-2025, vốn đầu tư công đạt khoảng 3,4 triệu tỷ đồng, tăng gần 55% (số tuyệt đối tăng 1,2 triệu tỷ đồng) so giai đoạn trước; đầu tư không dàn trải, số dự án sử dụng ngân sách trung ương giảm từ 11 nghìn (giai đoạn 2016-2020) xuống còn 4,6 nghìn dự án (giai đoạn 2021-2025).

Thu hút FDI năm 2025 đạt trên 38,4 tỷ USD, tăng 0,5% với năm 2024, vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu bị thu hẹp; tổng vốn FDI đăng ký giai đoạn 2021-2025 đạt 184,2 tỷ USD, tăng gần 8,4% so giai đoạn 2016-2020 và thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới. Quy mô thương mại tăng mạnh, từ 545,4 tỷ USD năm 2020 lên mức kỷ lục trên 930 tỷ USD năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới; trong đó năm 2025 xuất khẩu đạt 475 tỷ USD, tăng 17%, nhập khẩu đạt 455 tỷ USD, tăng 19,4%; xuất siêu năm 2025 đạt trên 20 tỷ USD, cả giai đoạn đạt 88,3 tỷ USD, tăng hơn 2 lần giai đoạn trước; các chuỗi cung ứng, thị trường xuất nhập khẩu được đa dạng hóa, đến nay nước ta có quan hệ thương mại với hơn 230 nền kinh tế, trong đó có 34 thị trường xuất khẩu và 24 thị trường nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng hơn 9% so năm 2024. Du lịch phục hồi, năm 2025 đón khoảng 21,17 triệu lượt khách quốc tế, cao nhất từ trước đến nay. Quyết liệt phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ…

Nguồn: Nhandan.vn

VIET NAM PAPER DAY 2026: “NÂNG CAO NĂNG LỰC- HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI XANH”

Diễn đàn toàn diện của ngành giấy và bao bì Việt Nam

Viet Nam Paper Day 2026 là chuỗi sự kiện tổng hợp quy mô toàn ngành, bao gồm: Hội nghị Toàn thể Hội viên Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, Hội thảo Kỹ thuật ngành Công nghiệp Giấy Việt Nam và Triển lãm Quốc tế Giấy và Bao bì Việt Nam – VPPE 2026. Sự kiện quy tụ đông đảo các doanh nghiệp hội viên, cùng các nhà cung cấp công nghệ, thiết bị, vật tư và hóa chất trong nước và quốc tế.

Với vai trò là sự kiện chuyên ngành độc quyền của ngành giấy Việt Nam, Viet Nam Paper Day không chỉ là nơi trao đổi thông tin, cập nhật xu hướng công nghệ mới mà còn là cầu nối thúc đẩy hợp tác, chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi xanh.

Hội thảo kỹ thuật: Trọng tâm công nghệ và phát triển bền vững

Điểm nhấn chuyên môn của Viet Nam Paper Day 2026 là Hội thảo Kỹ thuật ngành Công nghiệp Giấy, diễn ra vào sáng ngày 14/5/2026. Hội thảo quy tụ các chuyên gia kỹ thuật – công nghệ đầu ngành, đại diện các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng giải pháp công nghệ hàng đầu thế giới.

Nội dung hội thảo tập trung vào các chủ đề then chốt như công nghệ mới trong ngành giấy, xu hướng xử lý môi trường bền vững, các giải pháp tiết kiệm năng lượng cho nhà máy giấy, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường, hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững. Đây được xem là diễn đàn chuyên sâu giúp doanh nghiệp cập nhật tri thức, tiếp cận giải pháp tiên tiến và xây dựng lộ trình đổi mới phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.

Hội nghị toàn thể hội viên: Nhận diện xu hướng và cơ hội phát triển

Chiều ngày 15/5/2026, Hội nghị Toàn thể Hội viên Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam sẽ được tổ chức với sự tham dự của lãnh đạo Hiệp hội, chuyên gia kinh tế – chính sách trong nước và quốc tế.

Hội nghị tập trung đánh giá hoạt động của Hiệp hội năm 2025, định hướng phát triển năm 2026, đồng thời phân tích tổng quan ngành giấy Việt Nam, xu hướng thị trường thế giới và Trung Quốc, cũng như tác động của kinh tế vĩ mô và hành lang chính sách mới đối với ngành công nghiệp giấy. Các phiên thảo luận và tọa đàm chuyên sâu được kỳ vọng sẽ mang đến góc nhìn đa chiều, giúp doanh nghiệp nhận diện rõ hơn thách thức và cơ hội trong giai đoạn tới.

Trong khuôn khổ hội nghị, Giải thưởng Sản phẩm Giấy của năm sẽ được trao nhằm tôn vinh các sản phẩm tiêu biểu, khuyến khích đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng sản phẩm ngành giấy Việt Nam.

Triển lãm VPPE 2026: Cầu nối giao thương và đổi mới sáng tạo

Triển lãm Quốc tế Giấy và Bao bì Việt Nam – VPPE 2026, diễn ra xuyên suốt từ 13–15/5/2026, là hoạt động trọng điểm trong chuỗi sự kiện Viet Nam Paper Day.

VPPE 2026 là không gian trưng bày, giới thiệu các sản phẩm, thiết bị, công nghệ và giải pháp tiên tiến trong lĩnh vực giấy và bao bì, đồng thời là cầu nối giao thương chiến lược giữa doanh nghiệp trong nước với đối tác, nhà đầu tư quốc tế. Triển lãm góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và hỗ trợ ngành giấy – bao bì thích ứng hiệu quả với xu hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Chuỗi hoạt động bên lề tăng cường kết nối

Bên cạnh các hoạt động chuyên môn, Viet Nam Paper Day 2026 còn tổ chức nhiều hoạt động kết nối như Giải Golf VPPA, Gala Dinner, giao lưu văn nghệ và chương trình tham quan nhà máy giấy HKB Hoa Lư. Các hoạt động này không chỉ tăng cường giao lưu, gắn kết cộng đồng doanh nghiệp mà còn mở ra cơ hội hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong sản xuất và quản lý.

Thông tin được đính kèm: Brochure VPPE_2908 VI

 

GDP năm 2025 tăng trưởng 8,02%, bình quân đầu người đạt 5.026 USD

Tăng trưởng quý IV cao nhất kể từ năm 2011 đến nay

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2025 ước tính tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất của quý IV các năm trong giai đoạn 2011-2025, duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 7,05%, quý II tăng 8,16%, quý III tăng 8,25%).

Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,70%, đóng góp 5,13% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,73%, đóng góp 45,80%; khu vực dịch vụ tăng 8,82%, đóng góp 49,07%.

Về sử dụng GDP quý IV/2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,15% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 8,92%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,34%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,40%.

Tính cả năm 2025, GDP tăng trưởng khá với mức tăng ước đạt 8,02% so với năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025.

Trong tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%.

Mặc dù chịu tác động bất lợi từ bão, mưa lũ, nhưng nhờ triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai nên sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì ở mức ổn định. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp năm 2025 ước tăng 3,48% so với năm trước, đóng góp 3,59% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 5,70% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,38%; ngành thủy sản tăng 4,41%, đóng góp 1,33%.

Đối với khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2025 ước tăng 8,80% so với năm trước, đóng góp 35,15% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế.

Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97%, là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2019-2025, tiếp tục là động lực tăng trưởng kinh tế, đóng góp 31,49%. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,82%, đóng góp 0,60%. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,39%, đóng góp 2,94%. Ngành khai khoáng tăng 0,42%, đóng góp 0,13%. Ngành xây dựng tăng 9,62%, đóng góp 8,47%.

GDP năm 2025 tăng trưởng 8,02%, bình quân đầu người đạt 5.026 USD- Ảnh 2.

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê cho biết GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD).

Đáng chú ý, các hoạt động thương mại, du lịch tăng cao, khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 cao nhất từ trước đến nay, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2025 ước tăng 8,62%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 10,66% của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025.

Một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, như: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,52% so với năm trước, đóng góp 10,62%; ngành vận tải, kho bãi tăng 10,99%, đóng góp 8,69%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,82%, đóng góp 5,72%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,02%, đóng góp 3,34%.

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,64%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%; khu vực dịch vụ chiếm 42,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,96% (Cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 12,03%; 37,52%; 42,35%; 8,10%).

Về sử dụng GDP năm 2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,95% so với năm 2024; tích lũy tài sản tăng 8,68%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 17,12%.

Cũng theo Cục Thống kê, quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD). GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD).

Nguồn: baochinhphu.vn